Nông sản Việt Nam: Top thế giới về sản lượng nhưng vì sao giá trị vẫn chưa cao?

02/06/2026

Xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt kỷ lục 70.63 tỷ USD năm 2025, vượt xa mục tiêu đề ra - con số phản ánh sức vươn ấn tượng của nông nghiệp Việt Nam ra thị trường toàn cầu. Nhưng đằng sau đó là thực tế đáng suy ngẫm: 70-80% nông sản xuất thô, chuỗi liên kết chỉ bao phủ 13% hợp tác xã, thất thoát sau thu hoạch ở mức cao từ 10% đến 40% tùy loại sản phẩm và người nông dân vẫn bán giá do người khác quyết định.

Nhìn vào bảng xếp hạng xuất khẩu nông sản toàn cầu, Việt Nam có mặt ở gần như mọi ngành hàng chủ lực: gạo top 3, cà phê Robusta top 2, hồ tiêu số 1 thế giới, hạt điều số 1 thế giới, tôm và cá tra thuộc nhóm dẫn đầu. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 70.63 tỷ USD năm 2025, vượt xa mục tiêu đề ra. Những con số đó không phải ngẫu nhiên; đó là thành quả của hàng chục triệu lao động nông nghiệp cần mẫn và hàng loạt chính sách tái cơ cấu ngành được triển khai kiên trì qua nhiều năm.

Nhưng đằng sau các con số đó là một thực tế khác và đó mới là điều đáng để phân tích kỹ. Người trồng lúa ở Sóc Trăng, người trồng cà phê ở Đắk Lắk, người trồng hồ tiêu ở Bình Phước, vẫn có những người chạy ăn từng vụ, lo nợ vào đầu mỗi mùa vụ và bán nông sản với giá do người khác quyết định. Khoảng cách giữa kim ngạch xuất khẩu kỷ lục và thu nhập thực tế của người trực tiếp sản xuất là vấn đề cấu trúc mà ngành nông nghiệp Việt Nam chưa thể giải quyết trong một sớm một chiều.

Bài viết này không có tham vọng đưa ra giải pháp toàn diện. Đây là tổng hợp cảm nhận cá nhân của người viết từ các thông tin, số liệu công khai nhằm nhìn thẳng vào những điểm đứt gãy mà ngành nông nghiệp Việt Nam đang đối mặt.

Sản lượng hàng đầu - giá trị vẫn bỏ ngỏ

Theo nhiều nghiên cứu và đánh giá ngành, phần lớn nông sản xuất khẩu của Việt Nam vẫn ở dạng thô hoặc sơ chế, giá trị gia tăng còn thấp không nhãn hiệu, không câu chuyện sản phẩm, không hệ thống truy xuất nguồn gốc đạt chuẩn quốc tế. Điều đó có nghĩa, người mua ở đầu kia chuỗi cung ứng toàn quyền quyết định giá. Người bán tức nông dân Việt Nam chỉ có hai lựa chọn: chấp nhận mức giá đó hoặc để đó.

Thực tế từ ngành cà phê minh họa rõ nhất cho nghịch lý này. Hạt cà phê Robusta Việt Nam xuất khẩu dạng nhân xanh với giá bình quân khoảng 2–3 USD/kg. Tuy nhiên, khi được rang xay, đóng gói và xây dựng thương hiệu tại các thị trường phát triển, giá bán lẻ có thể đạt 30–50 USD/kg. Phần giá trị gia tăng khổng lồ đó, từ rang xay, bao bì, thương hiệu, kênh phân phối hoàn toàn không chảy về tay người trồng.

Hay như Gạo ST25 được vinh danh ngon nhất thế giới năm 2019, là câu chuyện tương tự nhưng theo hướng khác. Năm 2025, giá gạo xuất khẩu bình quân của Việt Nam đạt 555 USD/tấn, vượt Thái Lan, Ấn Độ và Pakistan trong cùng phân khúc. Thế nhưng người tiêu dùng tại Tokyo hay Amsterdam vẫn khó tìm thấy thương hiệu gạo Việt trên kệ siêu thị. Họ quen thuộc với Jasmine Rice của Thái Lan, Koshihikari của Nhật vì hai sản phẩm đó được xây dựng thương hiệu và hệ thống phân phối bài bản qua nhiều thập kỷ. Việt Nam có sản phẩm tốt, nhưng thiếu câu chuyện và thiếu kênh để kể câu chuyện đó đến đúng người tiêu dùng.

Những rào cản vô hình - thất thoát, hóa chất và thị trường

Sản xuất nông nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào nông hộ quy mô nhỏ, trung bình chưa đến 0,5 ha mỗi hộ. Không có quy trình canh tác thống nhất, không có tiêu chuẩn đầu vào đồng bộ, chất lượng đầu ra dao động từ thửa ruộng này sang thửa ruộng khác. Khi người mua quốc tế cần 10.000 tấn gạo đồng nhất về kích cỡ hạt, độ ẩm và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, khi đó với hàng trăm hộ canh tác rời rạc không thể đáp ứng yêu cầu đó, dù từng hộ có thể có sản phẩm rất tốt.

Đây là vấn đề cấu trúc, không phải lỗi của cá nhân nào. Khi mỗi hộ tự quyết định giống gì trồng, bón phân gì, phun thuốc gì, bán cho ai, sự rời rạc tất yếu tạo ra chất lượng không đồng đều, làm suy yếu toàn bộ khả năng cạnh tranh của cả vùng nguyên liệu. Đây cũng là lý do các thị trường cao cấp Nhật Bản, EU, Hàn Quốc, yêu cầu chứng nhận vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, và kiểm soát chuỗi lạnh mà các hộ sản xuất nhỏ lẻ khó lòng đáp ứng một mình.

Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam, đặc biệt với rau quả tươi, gạo và sắn. Sự phụ thuộc vào một thị trường địa lý gần tạo ra rủi ro tập trung rõ rệt: mỗi khi biên giới siết chặt kiểm dịch hoặc thay đổi chính sách nhập khẩu, hàng chục nghìn tấn nông sản bị ách tắc ở cửa khẩu, nông dân phải bán đổ tháo với giá rất thấp.

Những năm gần đây, tỷ trọng xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc tăng lên đây là tín hiệu tích cực về việc chuẩn hóa giao dịch, nhưng rủi ro phụ thuộc thị trường vẫn là bài toán chưa được giải triệt để.

Ở một số nhóm nông sản tươi, đặc biệt rau quả, tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch tại Việt Nam từ 10% - 40% tùy loại sản phẩm, thuộc nhóm cao nhất khu vực Đông Nam Á. Nguyên nhân chủ yếu là thiếu hệ thống kho lạnh, phương tiện vận chuyển lạnh và nhà máy sơ chế đủ công suất tại các vùng nguyên liệu. Hệ quả trực tiếp: nông dân phải bán nhanh ngay sau thu hoạch vì không có nơi trữ hàng. Thương lái nắm lợi thế ép giá vì biết người bán không có lựa chọn nào khác. Giá trị bị bào mòn ngay từ trong khâu vận chuyển và bảo quản, trước khi hàng kịp đến tay người mua.

Chuỗi liên kết – tại sao liên tục vỡ?

Việt Nam không thiếu chính sách thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị trong nông nghiệp. Nghị định 98/2018/NĐ-CP đã được triển khai từ năm 2018, mô hình cánh đồng lớn được mở rộng ở nhiều địa phương, và hàng trăm HTX nông nghiệp mới tiếp tục được thành lập mỗi năm.

Tuy nhiên, theo thống kê của hệ thống Liên minh HTX Việt Nam, dù năm 2025 cả nước có khoảng 2.000 HTX mới, tổng số thành viên ước đạt gần 7,1 triệu, nhưng chỉ khoảng hơn 4.700 HTX tham gia chuỗi giá trị, tương đương khoảng 13%. Điều này cho thấy liên kết thực chất vẫn còn khá hạn chế.

Vấn đề không nằm ở thiếu chính sách, mà ở những “điểm đứt gãy” lặp đi lặp lại trong vận hành thực tế, điều mà văn bản pháp lý khó có thể tự giải quyết.

Theo phản ánh từ nhiều HTX và doanh nghiệp, tình trạng phá vỡ hợp đồng bao tiêu vẫn diễn ra ở cả hai phía. Khi giá thị trường tăng, một bộ phận nông dân bán ra ngoài cho thương lái để hưởng chênh lệch. Ngược lại, khi giá xuống thấp, một số doanh nghiệp từ chối thu mua hoặc tìm cách ép giá lại.

Đây là vòng luẩn quẩn của một thị trường thiếu niềm tin dài hạn: khi các cam kết nhiều lần bị phá vỡ, giá trị của hợp đồng dần suy giảm và không bên nào còn sẵn sàng gắn bó lâu dài với nhau.

Vấn đề này có gốc rễ từ sự bất cân xứng rủi ro giữa nông dân và doanh nghiệp. Nông dân gánh toàn bộ rủi ro trong suốt vụ sản xuất: thời tiết, dịch bệnh, biến động giá đầu vào. Doanh nghiệp thu mua sau thu hoạch, không gánh rủi ro sản xuất, nhưng lại hưởng phần lớn chênh lệch khi thị trường thuận lợi. Cấu trúc phân phối lợi ích và rủi ro không đối xứng đó là nguyên nhân gốc rễ khiến chuỗi liên kết dễ vỡ khi có biến động giá.

Năng lực HTX và khoảng cách với yêu cầu xuất khẩu

Theo số liệu của Cục Kinh tế Hợp tác và Phát triển Nông thôn, tỷ lệ HTX nông nghiệp hoạt động có hiệu quả đã cải thiện đáng kể, từ dưới 30% năm 2017 lên trên 70% vào năm 2020, một sự tiến bộ rõ rệt đáng ghi nhận. Tuy nhiên, khoảng cách giữa một HTX hoạt động hiệu quả về quản lý nội bộ và một HTX có đủ năng lực đàm phán hợp đồng xuất khẩu, hiểu rõ yêu cầu chứng nhận quốc tế (GlobalG.A.P, Organic EU, Rainforest Alliance...) và xây dựng thương hiệu tập thể vẫn còn rất lớn.

Nhiều HTX hiện nay đủ năng lực tổ chức sản xuất nội bộ, nhưng thiếu nhân lực hiểu biết về thị trường xuất khẩu, thiếu vốn để đầu tư vào sơ chế và bảo quản và thiếu kết nối với các doanh nghiệp xuất khẩu đủ uy tín. Đây là khoảng trống mà chương trình hỗ trợ HTX cần hướng tới, thay vì chỉ tập trung vào việc tăng số lượng HTX thành lập mới.

Mặt khác, trong chuỗi giá trị hiện tại, nông dân thường chỉ biết giá thương lái trả tại cổng vườn không biết giá bán thực tế tại thị trường đích, không biết yêu cầu chứng nhận mà thị trường quốc tế đang đặt ra. Doanh nghiệp xuất khẩu nắm rõ yêu cầu chất lượng nhưng thông tin này thường không được chuyển tải đầy đủ và kịp thời tới người sản xuất. Hệ quả là nông dân canh tác không có đủ thông tin để điều chỉnh kỹ thuật và lựa chọn đầu vào theo nhu cầu thực của thị trường, tạo ra khoảng cách liên tục giữa những gì được sản xuất và những gì thị trường sẵn sàng trả giá cao hơn.

Những nơi chuỗi liên kết vận hành tốt nhất, như mô hình lúa gạo ở An Giang, mô hình cà phê tại Lâm Đồng, hay mô hình tôm ở Cà Mau, đều có một điểm chung: doanh nghiệp xuất khẩu đầu tư thực sự vào việc đưa thông tin thị trường xuống tận nông dân, hỗ trợ kỹ thuật, và chia sẻ rủi ro khi biến động giá. Đó không phải chính sách mà đó là quyết định kinh doanh của từng doanh nghiệp. Và nó cho thấy rằng chuỗi liên kết có thể vận hành tốt khi lợi ích của từng mắt xích được thiết kế bổ trợ cho nhau thay vì cạnh tranh nhau.

Triển vọng và những điều có thể làm khác đi

Nhìn thẳng vào các điểm đứt gãy nêu trên không có nghĩa là bi quan về nông nghiệp Việt Nam. Ngược lại, kim ngạch xuất khẩu 70.63 tỷ USD năm 2025, vượt xa mục tiêu đề ra, là bằng chứng sống động cho thấy tiềm năng của ngành là có thật và đang được khai thác ngày càng hiệu quả hơn. Thế giới đang có nhu cầu ngày càng lớn với thực phẩm an toàn, có nguồn gốc rõ ràng và sản xuất bền vững. Và Việt Nam với điều kiện khí hậu đa dạng cùng nguồn lực lao động nông nghiệp dồi dào, có đủ nền tảng để đáp ứng nhu cầu đó.

Quy định Farm to Fork của Liên minh châu Âu đặt mục tiêu giảm 50% việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học đến năm 2030. Nhật Bản và Hàn Quốc ngày càng siết chặt MRL (giới hạn dư lượng tối đa). Đây là những rào cản, nhưng đồng thời cũng là cơ hội: những thị trường này đang tích cực tìm kiếm nhà cung cấp đạt chuẩn để thay thế. Nông sản sạch, hữu cơ, có truy xuất nguồn gốc từ Việt Nam có thể chiếm thị phần đáng kể nếu chuỗi liên kết và hệ thống kiểm soát chất lượng được củng cố đủ mức.

Hiệp định EVFTA đã tạo ra lợi thế thuế quan đáng kể cho nông sản Việt vào thị trường EU. Nhưng lợi thế về thuế chỉ phát huy tác dụng khi hàng hóa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật và kiểm dịch của thị trường nhập khẩu. Đây là điều mà các mô hình liên kết chuỗi đang dần chứng minh không phải ở quy mô toàn ngành, nhưng ở những vùng nguyên liệu cụ thể, những HTX và doanh nghiệp cụ thể đã đầu tư nghiêm túc vào chất lượng và chứng nhận.

Một trong những thay đổi có tính nền tảng mà ngành nông nghiệp Việt Nam đang dần tiếp cận là ứng dụng công nghệ số vào quản lý chuỗi: từ nhật ký canh tác điện tử, hệ thống QR code truy xuất nguồn gốc, đến dữ liệu giá cả minh bạch theo thời gian thực. Những công cụ này không chỉ giúp doanh nghiệp quản lý rủi ro, chúng thực sự thay đổi thế mạnh đàm phán của nông dân: khi có dữ liệu rõ ràng về chất lượng vùng trồng, người trồng tốt có bằng chứng để yêu cầu giá cao hơn và doanh nghiệp có cơ sở để trả.

Những điểm đứt gãy trong chuỗi liên kết, từ hợp đồng bị phá vỡ, đến thất thoát sau thu hoạch, đến thông tin bất cân xứng đều là những điều không phải không thể thay đổi. Chúng là những điểm mà từng tổ chức, từng doanh nghiệp, từng địa phương có thể bắt đầu làm khác đi từ quy mô nhỏ nhất. Khoảng cách giữa giá trị xuất khẩu và thu nhập của người trồng là khoảng cách thực nhưng đó cũng là dư địa thực còn lại để khai thác, nếu chuỗi được tổ chức lại tốt hơn.

Tiềm năng nông nghiệp Việt Nam là không phải bàn cãi, bề dày sản xuất, đa dạng sinh thái, lực lượng lao động có kinh nghiệm hàng thế hệ là những tài sản mà không phải quốc gia nào cũng có. Thách thức không nằm ở việc sản xuất, Việt Nam đã chứng minh làm được điều đó ở quy mô thế giới. Thách thức nằm ở việc chuyển hóa sản lượng thành giá trị và giá trị thành thu nhập tương xứng cho người trực tiếp làm ra hạt gạo, trái điều, và hạt cà phê.

Nguồn: Báo điện tử Dân Việt

Chiếu Xạ Toàn Phát

Hotline 24/7: 093 100 0001

Email: thongtin@tpirr.vn - tiepnhan@tpirr.vn

logo

Kho Lạnh Toàn Phát

Hotline 24/7: 093 100 0001

Email: thongtin@tprw.vn - tiepnhan@tprw.vn

2024 ©︎TOANPHAT Group. All rights Reserved. admin@tpgr.vn